“Người như Anh không có nhiều đâu!”

Ông Nguyễn Văn Kỉnh là người duy nhất được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Hà Tiên. Cả cuộc đời Ông đã chứng tỏ là một con người cách mạng cao đẹp, tài đức song toàn. Ông đã xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân ta, của nhân dân Hà Tiên khi được bầu vào cơ quan quyền lực “cao nhứt nước”.

Đồng chí Nguyễn Văn KỈnh

Tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên (nay là tỉnh Kiên Giang) lúc đó là hai tỉnh riêng. Trong thời gian chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên (khoá I), tình hình ở cả hai tỉnh khá phức tạp: không khí chiến tranh đang lan đến và nặng dần vì quân Pháp đang rục rịch trở lại xâm lược nước ta; việc hiểu biết, thực hiện quyền tự do dân chủ còn giản đơn nên nhiều người ra ứng cử, tranh cử “ồn ào” với nhiều cách “dìm nhau”, giành ảnh hưởng với nhau… làm cho dân chúng phân tâm, hoang mang. Ở tỉnh Hà Tiên, cũng có một số ứng cử viên tự ứng cử hoặc được đề cử tranh cử… Nhưng qua thu xếp, thương lượng… cuối cùng cũng thống nhất chỉ giới thiệu một ứng cử viên và được trên qui định chỉ bầu một đại biểu của tỉnh.

Ngày 06-01-1946, ông Nguyễn Văn Kỉnh là người duy nhất được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I của tỉnh Hà Tiên. Cả cuộc đời Ông, Ông đã chứng tỏ là một con người cách mạng cao đẹp, tài đức song toàn. Ông đã xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân ta, của nhân dân Hà Tiên khi được bầu vào cơ quan quyền lực “cao nhứt nước”.

Thực vậy, ông là một người “được mọi người – không trừ một ai – yêu mến và kính trọng. Trên đời, người như anh không có nhiều đâu”(1) .

Nguyễn Văn Kỉnh (còn có bí danh là Tư Kỉnh, Thượng Vũ, Trung Nam) sinh ngày 28-02-1916 tại quận 1, Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), trong một gia đình khá giả. Ông có quốc tịch Pháp. Lúc nhỏ, Ông học trường Pétrus Ký; sớm hiểu biết và sớm tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1933, Ông vào Đoàn Thanh niên Cộng sản...

Thời kỳ 1936 – 1939, ông hoạt động và có nhiều cống hiến, đóng góp đậm nét trong lĩnh vực báo chí, tuyên truyền cách mạng giữa lòng Sài Gòn. Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, ông tham gia lãnh đạo cuộc “Khởi nghĩa Nam kỳ” tại tổng Long Hưng Thuận (thuộc tỉnh Chợ Lớn); bị bắt và bị tuyên án tử hình. Nhưng nhờ có quốc tịch Pháp nên giảm án còn chung thân khổ sai… Từ năm 1935 đến năm 1941, Ông có đến 4 lần bị bắt và 2 lần (42 tháng) “nằm” Khám Lớn Sài Gòn; mỗi lần ra tù là ông càng hăng hái hoạt động. 

Con đường hoạt động cách mạng của Ông trải qua nhiều gian truân nhưng cũng thật vẻ vang: 13 năm làm công tác quần chúng và xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, 03 năm hoạt động trong lĩnh vực xuất bản – báo chí công khai, 14 năm làm công tác tuyên huấn, 24 năm làm công tác đối ngoại, 37 năm giữ nhiều vị trí lãnh đạo Đảng các cấp; kinh qua nhiều trọng trách, như: Tỉnh ủy viên tỉnh Chợ Lớn, Ủy viên Liên Tỉnh ủy miền Đông, Ủy viên Xứ ủy Nam kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn (1945), Phó Bí thư Xứ ủy Nam bộ, Ủy viên Thường trực Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Đặc ủy Sài Gòn – Chợ Lớn (1953-1954), Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Liên Xô kiêm Đại sứ tại Albanie và Roumanie, Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn Các tổ chức đoàn kết và hữu nghị…, 25 năm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II và khóa III)…

Trong cơ quan lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam lúc bấy giờ, Nguyễn Văn Kỉnh là người trẻ tuổi nhứt. Đặc biệt, Ông là một trí thức “dân Tây” – có thể nói là trường hợp độc đáo nhứt trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Bấy giờ, ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Kỉnh là người giỏi ngoại ngữ nhứt. Ông sử dụng tốt tiếng Pháp, Anh, Nga, Quốc tế ngữ (Espéranto); biết tiếng Tây Ban Nha và có thể giao dịch bằng tiếng Quảng Đông (Tàu)! Ông thường xuyên đọc sách báo; chỗ làm việc của Ông không bao giờ thiếu vắng các loại sách báo ngoại văn. Ông nghe nhiều, xem nhiều, đọc và viết nhiều hơn là nói.

Bất cứ ai, dù mới gặp lần đầu đều nhanh chóng có thiện cảm với Ông bởi cách giao tiếp chân tình, thân thiện, cởi mở xuất phát từ tấm lòng nhân ái của Ông. Ông không bao giờ dùng chức vụ, quyền uy để áp chế cán bộ cấp dưới, mà luôn tìm cách khơi dậy tính năng động, lòng tự trọng, phát huy sự tự rèn luyện, tu dưỡng của bản thân từng người để họ tiến bộ hơn.

Trong sinh hoạt, công tác hàng ngày, Ông luôn tỏ rõ một cách tự nhiên phẩm chất liêm khiết, thực sự cần kiệm, khiêm tốn, giản dị; sống điều độ, yêu lao động, quý trọng thời giờ; không tham quyền, bợ đỡ để tranh thủ lợi lộc… Trong kháng chiến cũng như thời bình, dù học rộng, chức vụ cao, nhưng Ông không bao giờ khoa trương, “vênh váo”, mà Ông vẫn luôn không ngừng học hỏi, trau dồi lý luận, sống gần gũi, gắn bó mật thiết với mọi người chung quanh, với nhân dân. Ông là một tấm gương mẫu mực về tinh thần hiếu học với khát khao hiểu biết. Ở trong tù hoặc nơi chiến khu đạn bom ác liệt, cả những khi công việc bộn bề, Ông vẫn không ngừng tự học, tự nâng cao kiến thức về văn hóa, khoa học, lý luận và thực tiễn hầu nâng cao khả năng phục vụ ngày càng tốt hơn cho công việc, cho cách mạng.

Đặc biệt, những năm làm Đại sứ, trên cương vị của mình, Ông phải “đứng mũi, chịu sào” trước nhiều vấn đề quốc tế phức tạp, nhất là quan hệ căng thẳng lúc bấy giờ giữa Liên Xô và Trung Quốc, liên quan đến nước nhà… Nhưng Ông là một người rất sâu sắc; điềm tĩnh mà nhạy bén, ứng xử khôn khéo; qua thực tế được Bác Hồ, Trung ương Đảng tín nhiệm, được cán bộ đồng lòng hợp tác, ủng hộ nên Ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ; kéo dài nhiệm kỳ Đại sứ đến 10 năm. Trong vai trò Đại sứ, Ông vừa tập trung tâm trí xây dựng, tăng cường mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết với các nước, vận động sự ủng hộ về vật chất và tinh thần cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam; đồng thời quan tâm quản lý hàng ngàn du học sinh, sinh viên người Việt… ở nước sở tại.

Ông thực hiện cần kiệm, liêm chính một cách nghiêm túc; trở thành một đặc tính của ông. Mười năm làm Đại sứ Ông chỉ có 3 bộ vét-tông để sử dụng, cả sứ quán xem chung một tivi… Ông không “riêng tư” – dù chỉ một viên kẹo “ngoài tiêu chuẩn”. Ông thường nói, nước ta còn nghèo, không được động đến quỹ chung… Được mang theo vợ và 2 con nhỏ khi làm Đại sứ, ngoài tiêu chuẩn lương, nhu yếu phẩm… Ông trừ lương mình vào các khoản mua áo lạnh, trả tiền nội trú cho con… (vậy mà áo lạnh của con ông cũng không lành!). Ông là một người chồng, người cha mẫu mực, quan tâm chăm sóc gia đình với một tình yêu thương chung thủy, có trách nhiệm; làm tấm gương sáng, giáo dục con cái đi đúng hướng và trưởng thành nên người. 

Đối với mấy căn nhà (6 căn) và mảnh đất (2 ha) của gia đình ngay tại Sài Gòn, sau ngày giải phóng, Ông đã không xin lại, mà tâm nguyện “để đó làm tài sản công, để xây dựng bệnh viện, trường học cho nhân dân thì có ích hơn”. Gia đình Ông cũng không có ý kiến gì khác…

Nguyễn Văn Kỉnh mất ngày 26-10-1981. 

“Cuộc đời hoạt động cách mạng vẻ vang, nhân cách và phẩm chất trong sáng của đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh đáng để cho chúng ta noi gương và học tập, nhứt là trong thời điểm hiện nay”(2).

“Anh không chỉ là một cán bộ lãnh đạo tài cao, mà còn là một chiến sĩ cách mạng đức trọng. Tài cao, thể hiện ở chỗ, bằng sự nêu gương của chính mình, anh đã thu phục nhân tâm quần chúng, tập hợp và quy tụ mọi người đoàn kết gắn bó xung quanh mình để cùng nhau tổ chức thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ công tác của Đảng. Đức trọng, đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong việc anh kiên trì phấn đấu để vận dụng nhuần nhuyễn tư tưởng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” của Bác Hồ trong mọi mặt hoạt động và trong cuộc sống giữa đời thường, có tác dụng nêu gương và có sức lan tỏa mạnh…”(3).

Thành phố Hồ Chí Minh đã trân trọng đặt tên Ông cho một con đường ở quận 2 (nay là thành phố Thủ Đức). Ở Kiên Giang, nhứt là ở thành phố Hà Tiên, tôi nghĩ, cần sớm có một con đường hay một công trình công cộng nào đó xưng xứng mang tên Ông để vinh danh và nêu gương bởi “người như Anh không có nhiều đâu!” “Tôi ước gì trong Đảng ta hiện nay được nhiều đảng viên có phẩm chất như anh”(4)./.

 

(1) Nhận xét của ông Nguyễn Thọ Chân, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của Việt Nam tại Liên Xô. Báo Tuổi Trẻ, ngày 27-02-2016.

(2) Đồng chí Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng Chính phủ, viết trong bài “Anh Tư Kỉnh – Một chiến sĩ cách mạng kiên trung, sáng ngời nhân cách và phẩm chất”. Năm 2003.

(3)   Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải phát biểu trong cuộc tọa đàm ngày 26-02-2016, do Thành ủy Hồ Chí Minh tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Nguyễn Văn Kỉnh.

(4) Võ Văn Kiệt, tài liệu đã dẫn.