An Giang – nơi sông Mê Kông đỏ nặng phù sa chảy vào đất Việt, vun bồi nên châu thổ Cửu Long xanh tươi, trù phú, ruộng đồng bao la, cây trái ngọt lành... Đến với An Giang là đến với vùng đất "địa linh nhân kiệt", nơi lưu dấu bao công trình một thuở cha ông đi mở cõi…
Vùng đất trù phú, hào sảng và trọng nghĩa nhân ấy đã sinh ra người con ưu tú của đất nước: Chủ tịch Tôn Đức Thắng – Người suốt một đời vì dân, vì nước, làm rạng danh quê hương An Giang.

Tượng đài Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại phường Long Xuyên tỉnh An Giang. Ảnh: Thế Hạnh
Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20/8/1888 trong một gia đình trung nông xứ cù lao Ông Hổ, làng An Hòa, tổng An Phú, hạt Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang). Đây là nơi mà từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đã từng in dấu chân của nhiều nho gia yêu nước từng tham gia phong trào Cần Vương, đến sống ẩn dật chờ thời cơ đứng lên chống Pháp.
Bước ngoặt cuộc đời và lý tưởng cách mạng
Thời thơ ấu, Bác Tôn được gia đình cho học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Lớn lên trong cảnh đời nô lệ, các phong trào yêu nước bị dìm trong biển máu đã tác động sâu sắc đến nhận thức của cậu bé Tôn Đức Thắng.
Đầu những năm 2000, có dịp đến Hà Nội thăm gia đình bà Tôn Thị Hạnh (con gái của Bác Tôn), chúng tôi đã được bà kể rằng: “Ngay từ thời niên thiếu, ba tôi rất ghét cái cảnh xe kéo, người kéo xe như là con trâu con ngựa, người ngồi trên xe tréo ngoảy, cụ ghét lắm… Một hôm thấy người kéo xe chở một thằng Tây, nó không trả tiền lại còn đánh chửi nữa, ba tôi liền cho mấy đồng rồi nói: Thôi anh đừng làm cái nghề này nữa…”.
Nhưng rồi tình cảnh ấy vẫn cứ xảy ra, bởi mỗi làng quê, mỗi con sông, ngọn cỏ trên đất nước này đều nằm trong tay bọn thực dân. Thực tế đau thương đó cùng với những bài học về đạo làm người, về tinh thần yêu nước được truyền dạy từ người thầy đầu tiên – nhà nho yêu nước Nguyễn Thượng Khách bên phố chợ Long Xuyên – đã làm cháy lên trong tâm trí cậu học trò Tôn Đức Thắng những câu hỏi: Nước Pháp ở tận đâu? Có bị nước khác đến cai trị như nước mình không? Để rồi từ đó thắp lên trong lòng người thiếu niên ấy những dự định lớn lao cho quê hương đất nước.
Năm 1907, sau khi tốt nghiệp tiểu học ở trường tỉnh Long Xuyên, chàng thanh niên Tôn Đức Thắng không đi theo con đường làm "thầy thông, thầy ký" cho thực dân để được vinh thân, mà quyết định lên Sài Gòn học làm thợ ở Trường Bá Nghệ (nay là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng).
Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhận định: “Chọn con đường học nghề là bước ngoặt vô cùng quan trọng, đưa chàng thanh niên Tôn Đức Thắng bước vào một chặng đời mới – chặng đời làm thợ vốn còn rất xa lạ với người dân vùng ĐBSCL lúc bấy giờ, để được sớm tiếp xúc với cơ khí, với giai cấp công nhân và những tư tưởng mới của thời đại."
Thủ lĩnh của giai cấp công nhân
Sau 4 năm học với số điểm cao nhất khóa, năm 1910, anh Hai Thắng làm công nhân ở xưởng Ba Son. Ở đây, anh đã hòa vào đời sống thợ thuyền và nhận thấy rằng: "Từng người thợ có sức mạnh riêng, nhưng nhiều người thợ hợp lại, sức mạnh được nâng lên rất lớn nếu đồng lòng".
Với nhận thức này, Tôn Đức Thắng nhanh chóng trở thành thủ lĩnh phong trào đấu tranh. Đỉnh điểm là sự kiện kéo cờ đỏ trên chiến hạm France ở Biển Đen vào ngày 20/4/1919 để ủng hộ nước Nga Xô viết. Sau cuộc binh biến, người lính thợ Tôn Đức Thắng bị trục xuất khỏi nước Pháp. Trở về Sài Gòn, ông tiếp tục gây dựng phong trào.
Năm 1920, Tôn Đức Thắng thành lập Công hội đỏ – tổ chức công đoàn đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Sự ra đời của Công hội đỏ cùng với Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội của Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930.
15 năm "Địa ngục trần gian" Côn Đảo
Tháng 7/1929, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám Lớn, sau đó kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo. Tại đây, người tù mang số 5289 Tôn Đức Thắng đã cùng đồng chí biến nhà tù thành trường học cách mạng.
Bị tống vào hầm xay lúa – nơi được xem là “địa ngục của địa ngục”, thực dân Pháp mưu đồ mượn tay những tù nhân hung hãn để hãm hại ông. Nhưng bằng sự chân tình, khoan dung và chất hào sảng Nam Bộ, "anh Hai Thắng" đã cảm hóa được cả những tù nhân "anh chị", biến họ thành những người yêu nước, dạy chữ và giác ngộ họ đi theo cách mạng.
15 năm ngục tù đen tối không dập tắt được ý chí, mà trái lại đã làm rực sáng một nhân cách lớn. Những câu chuyện về Bác Tôn vẫn được các thế hệ tù chính trị sau này truyền tai nhau như một nguồn động lực tinh thần to lớn.
Vị Chủ tịch nước giản dị và đức độ
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Tôn được điều động ra Bắc công tác bên cạnh Bác Hồ. Năm 1960, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước. Hình ảnh Bác Hồ và Bác Tôn tươi cười nắm tay nhau đã trở thành biểu tượng cao đẹp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của tình nghĩa Bắc - Nam ruột thịt.
Năm 1969, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch nước. Dù ở vị trí nguyên thủ quốc gia, ông vẫn giữ nếp sống vô cùng khiêm tốn: thích đi bộ, tự sửa xe đạp, mặc áo ấm cũ nối thêm đoạn... Khi được hỏi, ông chỉ cười bảo: “Chủ tịch nước mặc áo nối thì dân mới có đủ cơm ăn!”.
Tình yêu quê hương và gia đình
Dù đi làm cách mạng xa cách biền biệt, Bác Tôn vẫn dành cho người vợ của mình tình cảm sắt son. Câu chuyện về bức thư bà Tôn gửi cho ông khi ông đang ở tù Côn Đảo khẳng định lòng thủy chung chờ đợi đã khiến bao người xúc động.
Sau ngày thống nhất đất nước, lần đầu về thăm quê hương An Giang, Bác bùi ngùi xúc động. Bác muốn về cù lao Ông Hổ bằng xuồng chèo như ngày xưa nhưng vì sức khỏe, tỉnh đã bố trí tàu nhỏ. Bác căn dặn nhân dân An Giang phải đoàn kết, phấn đấu trở thành một tỉnh giàu mạnh, ấm no.
Đã gần nửa thế kỷ Bác Tôn đi xa, nhưng lòng tôn kính của nhân dân cả nước đối với Người vẫn vẹn nguyên. Những cây bàng từ Côn Đảo được mang về trồng tại Mỹ Hòa Hưng, và những cây ô môi từ An Giang được mang ra trồng giữa trùng khơi Côn Đảo như một biểu tượng kết nối thiêng liêng về cuộc đời của một con người bình thường mà vĩ đại – Chủ tịch Tôn Đức Thắng.