… Từ đó đến nay, thời gian cũng đã gần 2 phần 3 thế kỷ, giờ Vĩnh Bình Nam - Bắc vùng đất của một thời chiến tranh lửa máu, vùng đất mà nghĩa trang nhiều hơn nơi họp chợ, cũng đã về chung một nhà, có tên mới, mang một diện mạo mới...

Nhà báo Ngô Hoàng Vân (bìa trái) và nhà báo Lê Nam Thắng (bìa phải) đến thăm và chúc Tết đồng đội cũ tại vùng U Minh Thượng vào những ngày giáp tết Bính Ngọ 2026. Ảnh: Hà Châu
Một đêm cuối Đông năm 1969, ngày đất nước còn chìm đắm trong chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, tại Nghĩa trang Liệt sĩ ngã ba Kè Một, độ 2 giờ sáng nhóm chúng tôi 5 người âm thầm đào huyệt mộ để chôn cất thầy giáo Phan Hoàng Lương, thầy ngã xuống khi chưa kịp bước lên bục giảng, tại cái nơi mà trước đó chưa lâu, nhân dân ấp Đồng Tranh (xã Vĩnh Bình Bắc) góp công, góp sức dựng lên một ngôi trường học. Thầy hy sinh trước mũi súng của trung đội biệt kích thám báo, thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 33, sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn đang càn quét làm mưa, làm gió vùng đất U Minh với tên gọi chiến dịch: “Bình định nhổ cỏ U Minh”.
Trong số 5 người trực tiếp chôn cất thầy Phan Hoàng Lương đêm đó, trừ tôi và anh Phạm Tử Hấu là cùng cơ quan với thầy nhưng khác chuyên môn, thầy bên giáo dục, còn chúng tôi bên tuyên truyền. Ngoài ra còn có 3 người địa phương, đó là anh Nguyễn Hồng Cẩm, Bí thư Xã ủy xã Vĩnh Bình Bắc, Nguyễn Văn Thanh một đội viên Đội du kích xã, người còn lại là một chị phụ nữ tôi mới gặp lần đầu chưa biết tên, cũng do đêm tối nên không nhìn rõ mặt.
Sau khi thân xác của thầy Phan Hoàng Lương được gói trong một chiếc võng dù cùng 2m cao su tạm nằm yên dưới 3 tấc đất thì trời sắp sáng, chính người phụ nữ mà tôi chưa rõ mặt biết tên đó, dúi vào tay tôi và anh Phạm Tử Hấu mỗi người một nắm cơm còn hơi nóng, chị bảo: - Hai chúng tôi tranh thủ rời đây trước khi trời sáng, do đường vô rừng còn xa. Chị còn dặn đi dặn lại phải hết sức cẩn thận mấy chỗ chúng tôi sắp đi qua, nhất là đầu Lô Mười Hai, ngã 4 Vĩnh Tiến, ấp Khân, Công Sự… nơi mà giặc thường hay phục kích giăng bẫy, chờ những người kháng chiến đi qua…
Sau này, qua lời kể của chú Năm Nguyễn Văn Nguyễn, bên Tiểu ban giáo dục giải phóng tỉnh Rạch Giá, tôi mới biết người phụ nữ mà tôi chưa nhìn rõ mặt vào cái đêm hôm đó là cô giáo Nguyễn Thị Hoa, cô giáo là bạn học cùng khoá trường Sư phạm khu Tây Nam Bộ với thầy Phan Hoàng Lương, cũng là lớp giáo viên trẻ cốt cán ngày đó của Tiểu ban Giáo dục giải phóng tỉnh Rạch Giá, sẵn sàng đi bất cứ đâu, nhất là những điểm nóng của chiến tranh để dạy học cho đàn em nhỏ. Có những lúc phải dạy học trong tầm đại bác, dưới tiếng nổ đạn bom, tiếng gầm rú của máy bay, xe bọc thép, hay bên chiến hào còn khét mùi thuốc súng.
Rời ngã ba Kè Một vào cái đêm hôm đó, thấm thoát thời gian tròn 4 năm tôi mới được trở lại xã Vĩnh Bình Bắc vào những ngày giáp Tết Đinh Mùi năm 1973. Ngày hiệp định Paris về ngừng bắn chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở miền Nam Việt Nam vừa được ký kết. Tuy còn nhiều ngổn ngang sau ngày giặc vừa tháo chạy, nhưng dựa vào sức dân xã đã có trạm Y tế có dược sĩ Nguyễn Thị Cẩm Tú từ Ban Dân y Khu Tây Nam Bộ, cùng với một vài anh chị em địa phương, hợp sức lo việc khám và chữa bệnh cho nhân dân. Chỗ ngã ba Kè Một trước ngày giặc tháo chạy thường không thấy một bóng người, do nằm trong vùng giặc tự do oanh kích, bây giờ chính quyền cùng với bà con đã hợp sức bắc qua sông cây cầu dài 3 nhịp, mặt cầu rộng bằng 4 thân cây tràm U Minh ghép lại khang trang. Lúc nào cũng có dòng người với băng, cờ, khẩu hiệu kéo nhau qua cầu đi trẩy hội. Phía bờ đông ngã ba Kè Một, ngôi trường mái lá cũng vừa kịp dựng lại ngay trên nền tro than, đàn em nhỏ tung tăng cặp sách đến trường. Theo dòng người qua cầu trẩy hội, tôi tìm tới thăm trường, thăm và chia vui niềm vui được đứng lớp cùng cô giáo Hoa, nhưng người đứng lớp thay cô giáo Hoa hôm đó là cô giáo Võ Thị Thơi, cũng từ nơi khác mới được phân công về giảng dạy cách nay mấy hôm. Cô giáo Võ Thị Thơi cho biết, cô giáo Nguyễn Thị Hoa vừa hy sinh cách nay tròn 1 tháng.
Sau này, qua lời kể của chính người Bí thư Xã ủy xã Vĩnh Bình Bắc ngày trước, người cùng chúng tôi và cô giáo Hoa trực tiếp chôn cất thầy Phan Hoàng Lương vào một đêm cuối đông năm đó. Thực ra, suốt thời gian được phân công về bám trụ dựng trường dạy học tại trọng điểm ngã ba Kè Một, cô giáo Nguyễn Thị Hoa không có được 1 ngày yên ổn, ngôi trường vừa dựng lên thì giặc đến đốt cháy, cháy đến bao nhiêu lần, chính người trong cuộc cũng không nhớ nổi. Chuyện muốn yên ổn để dạy chữ cho đàn em nhỏ mà thằng giặc cũng không tha, nên không cách nào khác phải trực tiếp tham gia đánh giặc trước, để giành lấy phần yên ổn rồi mới tính chuyện dạy học sau. Từ đó, cô giáo Hoa xung phong trở thành một tâm điểm kết nối, góp một phần canh giữ đảm bảo an toàn cho những cán bộ hoạt động trong vùng, cán bộ cấp trên được cử về địa phương công tác, khi phải đi qua ngã ba Kè Một để tiếp cận phía vùng ven kinh xáng Chắc Băng, Bời Lời, Cái Nứa, Bình Phong hay những đơn vị bộ đội qua đây để đi về phía Xẻo Gia, Nhà Ngang, Ba Đình chờ vượt sông Cái Lớn. Tín hiệu báo yên cho những cán bộ, những đoàn qua đây nhận biết, cũng hết sức bình thường theo một quy tắc riêng định sẵn, ban ngày có khi nhận dạng qua vành nón lá, khi thì cái vẫy tay phe phẩy của chiếc khăn rằn, đêm thì thường nhận biết qua ngọn đèn dầu hỏa tù mù, lúc thì được đặt ngay trước hiên nhà, khi thì nơi cuối xóm.
Riêng chuyện về cô giáo Nguyễn Thị Hoa hy sinh mà người Bí thư Xã ủy xã Vĩnh Bình Bắc kể lại hôm đó, tôi nghe mà nhập tâm như một thước phim quay chậm. Bỗng trong tôi bao nhiêu ký ức ùa về thành nỗi nhớ, nhớ những trận đánh bắn rơi trực thăng Mỹ chỗ ngã ba Kè Một, nhớ những đồng chí, bạn bè trên đường công tác qua đây bị địch phục kích hy sinh, bị bắt lưu đày biệt xứ, nhớ những lời dặn dò ân tình, nhớ vắt cơm trao tay từ cô giáo Hoa cho đến bây giờ như còn nguyên hơi ấm...! Không riêng gì tôi, trên má người Bí thư già cũng thấy lăn dài hai hàng nước mắt, rồi ông lần dò bấm đốt ngón tay tính thời gian lùi lại đúng buổi chiều định mệnh đó. Hôm ông cùng 4 chiến sĩ đội du kích xã Vĩnh Bình Bắc, từ kinh Ô Môi Xẻo Gia đi đột nhập ấp chiến lược gần đồn kinh Bốn Thước phía kinh Kiểm Lâm, để làm công tác tuyên truyền vận động nhân dân như thường lệ, Khi xuống vừa bơi tới gần ngã ba, đâu có ngờ phía bờ phải nơi ngã rẽ về hướng Đồng Tranh, một trung đội lính bảo an do tên trung uý Nghiêm trưởng đồn Kè Một chỉ huy đang phục kích chờ sẵn. Khi ông cùng 4 chiến sĩ đội du kích sắp nằm gọn trong tầm súng của giặc, giữa thời khắc sinh tử đó không phải chỉ có tín hiệu qua vành nón lá, mà chính cô giáo Nguyễn Thị Hoa bằng xương bằng thịt, xuất hiện ngay trước mũi súng quân thù, giải cứu cho ông cùng đội du kích thoát chết trong gang tấc. Điên tiết, tên trung uý Nghiêm cùng bọn lính đồn Kè Một xả súng liên hồi, đạn bay về phía đội du kích thì ít, mà đạn bay về phía cô giáo Hoa thì nhiều. Cái vành nón lá mỏng manh đâu đủ sức che chở, cô hy sinh ngã xuống trong một chiều chập choạng hoàng hôn. Qua cái bấm đốt ngón tay từ người Bí thư, chuyện xảy ra cách nay vừa tròn 1 tháng, ngay trước thềm hiệp định Paris vừa ký kết.
Từ đó đến nay, thời gian cũng đã gần 2 phần 3 thế kỷ, giờ Vĩnh Bình Nam -Bắc vùng đất của một thời chiến tranh lửa máu, vùng đất mà nghĩa trang nhiều hơn nơi họp chợ, cũng đã về chung một nhà, có tên mới Vĩnh Bình, mang một diện mạo mới. Những địa danh: Cây Bàng, Đồng Tranh, ngã năm Bình Minh, ngã ba Kè Một nơi có những thầy cô giáo ngày đánh giặc, đêm đêm dạy chữ như: thầy Phan Hoàng Lương, cô giáo Ngô Kim Thu, cô giáo Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh Thái Sơn hy sinh nằm xuống. Không hiểu hà cớ gì, nỗi nhớ vẫn cứ đeo bám, ken dày trong tâm trí chúng tôi! Một thứ đeo bám, khiến cho lòng ray rứt khó tả. Cho dù sau ngày hoà bình, có đến triệu lần về thăm, hay mòn gót đi qua những địa danh đó. Sự đeo bám đó, nó cũng không mơ hồ sương khói như: “Giọt buồn không tên” (-). Mà nó luôn song hành theo năm tháng, khi thời gian càng dài, càng hiển hiện một nỗi nhớ thành tên, qua hai tiếng: Vĩnh Bình!
(*) Lời tựa một bài hát của Anh Việt Thu.
Viết trước thềm năm mới Bính Ngọ 2026.