
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12.1920
Bài học lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra là từ sự thất bại của các phong trào yêu nước và các tấm gương xả thân vì nước, Người viết: “Nếu chỉ có lòng yêu nước, căm thù giặc không thôi thì chưa đủ để giành thắng lợi... Vấn đề đặt ra là phải có một đường lối đúng đắn, giải quyết được những vấn đề bức xúc của dân tộc là giành được độc lập dân tộc bằng chính sức lực của mình. Nhưng đó là con đường nào? Tìm ở đâu?..”. Trước năm 1920, đó là vấn đề lịch sử đặt ra cho nhân dân Việt Nam trong đó có người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Để giải quyết vấn đề đó, Người thấy cần phải ra nước ngoài đi tìm con đường cứu nước.
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành (lúc đó lấy tên là Ba) xin làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời bến cảng Sài Gòn đi Mácxây (Marseille) bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Vượt lên trên những hạn chế về con đường cứu nước của các nhà yêu nước đương thời, việc Người quyết định ra đi tìm con đường cứu nước khác con đường cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cũng như nhiều người Việt Nam yêu nước khác – đó là không cầu viện, không xin giặc rũ lòng thương. Ý chí yêu nước của Nguyễn Tất Thành thể hiện một bản lĩnh kiên cường và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi là “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
30 năm sinh sống và hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Tất Thành làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình. Năm 1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) Bản yêu sách của nhân dân An Nam, yêu cầu các nước tham dự Hội nghị thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Năm 1920, tại Đại hội Tua, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1921, tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, năm 1922 xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp. Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Ủy viên Thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á, xuất bản cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp... Để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản tại Việt Nam, năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức Cộng sản Đoàn, đào tạo cán bộ để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.
Hành trang ra đi tìm con đường cứu nước của Hồ Chí Minh, ngoài ý chí nghị lực phi thường, ước mơ khát vọng hoài bão lớn lao của tuổi trẻ, với tư chất thông minh, nhãn quan chính trị sắc bén, còn có mạch ngầm truyền thống yêu nước của dân tộc, sau này chính tinh thần yêu nước Người đã nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước khi Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia tách khỏi Đảng Xã hội để thành lập Đảng Cộng sản Pháp vào năm 1920. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong tư tưởng của Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người là người cộng sản Việt Nam đầu tiên và là một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp. Với sự ảnh hưởng và tiếp thu tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây, sự tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lúc bấy giờ và cùng với quá trình tìm đường cứu nước, vừa lao động vừa tiến hành khảo sát thực tiễn ở các nước trên thế giới và thuộc địa của Pháp,.. đã cho Hồ Chí Minh một nhận thức quan trọng: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức... Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam...”
Rút ra từ thực tiễn quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin, Người tìm thấy ở đó những lời giải đáp đầy thuyết phục cho những câu hỏi của mình. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là con đường cách mạng triệt để nhất phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Sau này, Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Đến đây, Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường cứu nước của mình theo con đường cách mạng vô sản: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thực hiện mục tiêu: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
Như vậy, rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước năm 21 tuổi. Từ một người thanh niên yêu nước nhiệt tình cách mạng, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi con đường đó. Đối với Người, quá trình tìm đường cứu nước, nhất là những năm hoạt động ở Pháp có ý nghĩa rất to lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Người đã trưởng thành vượt bậc, từ người thanh niên yêu nước trở thành người cộng sản, từ một thân phận người mất nước, người nô lệ đến quá trình tìm kiếm một mô hình, một con đường cứu nước mới và Người đã phải trải qua khó khăn vất vả, lao động nhiều nghề và trở thành người tổ chức, tuyên truyền cách mạng nổi tiếng thế giới. Người là biểu tượng chủ nghĩa anh hùng cách mạng, yêu nước thương dân, ôm ấp một hoài bão lớn lao là tìm hiểu nền văn minh của thế giới, ra sức học hỏi để trở về giúp nước - một giai đoạn mới, một bước ngoặt mới trong cuộc đời của Hồ Chí Minh.
Với ý chí nghị lực phi thường, mục tiêu ra nước ngoài của Hồ Chí Minh là để tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Năm 1930, Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. “Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, “nếu không ra sức thì chắc không thành công”, “ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi”. Người cho rằng phải hành động ngay, dựa trên sức mạnh toàn dân nhất định thành công. Năm 1941, Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người kêu gọi: “Phải đoàn kết toàn dân, vũ trang toàn dân, dân trước, súng sau, có dân sẽ có súng, có dân sẽ có tất cả”. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của dân tộc là trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thống nhất đất nước.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vị lãnh tụ hiếm thấy suốt một đời hy sinh, đấu tranh vì nền độc lập cho dân tộc, như UNESCO đã ghi nhận, suy tôn Người “Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Vì:
Người đã tìm ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, đó là con đường kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, từ đó chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời đại mới vô cùng oanh liệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam;
Người đã có công trong truyền bá và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, vận dụng thế giới quan và phương pháp luận Mác – Lênin để đánh thức các tiềm năng tinh thần yêu nước Việt Nam, bồi dưỡng những nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam;
Người đã xây dựng những tiền đề tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam và đã thống nhất các tổ chức cộng sản đầu tiên ở trong nước để sáng lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam. Dù ở nước ngoài hay ở trong nước, Người luôn chăm sóc, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta vượt qua mọi thử thách khó khăn, đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi to lớn như ngày nay;
Người đã dày công xây đắp nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc làm nền tảng sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù. Tư tưởng lớn của Người được diễn đạt cô đọng trong khẩu hiệu chiến lược “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” đã trở thành nguồn cổ vũ, động viên, thành ngọn cờ tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc;
Người là vị cha già thân yêu của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Người đã bồi dưỡng cho các thế hệ lực lượng vũ trang tinh thần quyết chiến, quyết thắng, làm nên những chiến công vang dội cho một dân tộc anh hùng;
Người đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Người đặt nền móng cho việc xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân”. Người là nhà chiến lược thiên tài đã cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra thời kỳ sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và làm thất bại một bước chủ nghĩa thực dân mới, góp phần tác động sâu sắc vào tiến trình lịch sử thế giới thế kỷ XX. Người đã khai sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa qua chủ nghĩa tư bản, bị chiến tranh tàn phá để đi tới xã hội dân chủ, ấm no, hạnh phúc;
Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân và vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam học tập, noi theo và tư tưởng của Người sống mãi với non sông đất nước, sống mãi trong lòng mỗi chúng ta.
Với tinh thần khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Chúng ta càng nhận thức sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu: Kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là quan trọng nhất. Quyết tâm xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, để Đảng thực sự “là đạo đức là văn minh”, “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Chăm lo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong bối cảnh phát triển đất nước. Đồng thời, khẳng định giá trị xuyên suốt cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là “lấy dân làm gốc”, “muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh… Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.
Nhân Kỷ niệm 115 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2026), là dịp mỗi chúng ta bày tỏ niềm tự hào và biết ơn sâu sắc đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Người là tấm gương, là biểu tượng cao đẹp về ý chí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, yêu nước, thương dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là một bản anh hùng ca cách mạng, một tấm gương sáng ngời từ lòng yêu nước thành một hành trình tìm kiếm con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam./.
TS Trương Thị Hồng Nga, Trường Đại học Xây dựng Miền Tây
_____________
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Lý luận chính trị, H. 2006.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, H. 2011, tập 1 và tập 2.
3. GS Song Thành: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, H. 2005.